Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

Biệt thự Trần Lệ Xuân




Biệt thự Trần Lệ Xuân - đệ nhất phu nhân chính quyền Sài Gòn thời bấy giờ. Tên gọi của biệt thự là Bạch Ngọc.

Ngày nay biệt thự trở thành trung tâm lưu trữ quốc gia với nhiều Mộc Bản triều Nguyễn về các chuẩn mực xã hội, lịch sử, địa lý...được những người thợ tài hoa khắc lên gỗ sau khi đã được vua duyệt qua.

Nằm ở số 02 Yết Kiêu, DL. Nếu có dịp du lịch Đà Lạt, mọi người cũng nên dành thời gian ghé qua đây. Ngày xưa khu vực quanh biệt điện khá hoang vắng, biệt điện nằm trên đồi cao nhìn xuống thung lũng rừng thông. Nay thì xung quanh dân cư đã đông đúc lên nhiều. Cũng phần nào mất đi vẻ uy nghi của biệt thự này.

Dưới chế độ Cộng Hoà miền Nam Việt Nam, biệt điện được cho là sự biểu tượng của xa hoa và lộng lẫy, khu nghỉ dưỡng bậc nhất trong những năm 1954-1960. Với khí hậu lạnh quanh năm của Đà Lạt, bà Trần Lệ Xuân cho xây hồ bơi phía sau, nổi tiếng với hồ bơi nước nóng, nơi qui tụ nhiều quan chức cấp cao ăn uống, tiệc tùng...

Với diện tích hơn 13.000m2, biệt điện thể hiện phần nào sự xa hoa của chính chủ nhân của nó. Ngày nay, biệt điện là nơi thường xuyên du khách đến tham quan. Một số hình ảnh của gia đình bà T.L.Xuân


Khu biệt điện từng được xem là "đệ nhất trời Nam" được khởi công từ năm 1958 có ba toà biệt lập với các tên gọi Bạch Ngọc, Lam Ngọc và Hồng Ngọc. Bạch Ngọc là nơi giải trí của gia đình Trần Lệ Xuân và các tướng tá thời kỳ "Đệ nhất Cộng hòa"; Lam Ngọc dùng làm nơi nghỉ cuối tuần của riêng gia đình Lệ Xuân còn Hồng Ngọc là biệt thự mà "bà Nhu" xây tặng cho Trần Văn Chương, bố đẻ của mình. Lúc khởi công xây dựng cụm biệt điện này, gia đình họ Ngô đang thời kỳ "làm mưa làm gió" ở miền Nam nên Trần Lệ Xuân đã huy động tối đa nhân, vật lực và tinh hoa kiến trúc nhân loại để thể hiện đến đỉnh cao uy quyền và sự giàu sang phú quý của chủ nhân. Nội thất của tất cả các biệt thự trong tổng khuôn viên 13.000m2 có đầy đủ phòng làm việc, hội họp, phòng khiêu vũ. Ngoài sân có hồ bơi nước nóng, vọng đài và một vườn hoa do những kỹ sư được thuê từ Nhật Bản sang thiết kế (nên còn gọi là vườn hoa Nhật Bản). Điểm thú vị, độc đáo của vườn hoa Nhật Bản phía sau biệt thự Lam Ngọc là có một hồ sen khi bơm đầy nước trên hồ này sẽ hiện rõ hình địa đồ Việt Nam. Giữa địa đồ thu nhỏ này còn có cả dải phân cách thể hiện Vĩ tuyến 17 chia cắt Bắc - Nam. Giấc mộng bá quyền cuồng loạn và mưu đồ chia cắt vĩnh viễn Tổ quốc Việt Nam đã theo người đàn bà quyền lực bậc nhất miền Nam một thời đến tận chốn hưởng lạc cuối tuần này!

ặc biệt, trong biệt thự Lam Ngọc có hầm trú ẩn được thiết kế bằng thép có thể chống đỡ được sức công phá của đạn B40 và đường hầm thoát hiểm mà cho đến tận ngày nay người ta vẫn chỉ có thể phỏng đoán các đường hầm trong nhà đều dẫn ra sân bay Cam Ly

Có lẽ cũng chính vì sự nuối tiếc một thời vàng son ở chốn bồng lai tiên cảnh nên những ngày cuối đời định cư tại Pháp trong sự cô quạnh của tuổi bát tuần, “bà Nhu” vẫn mang theo bên mình tấm ảnh chụp khu biệt điện này chăng?

Đầu năm 2007, Bộ Nội vụ đã quyết định đầu tư hơn 53 tỷ đồng trùng tu khu biệt điện Trần Lệ Xuân làm cơ sở cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV. Hiện, trung tâm này đã chính thức đi vào hoạt động. Đây chính là nơi bảo quản, lưu giữ hơn 30.000 mộc bản cực kỳ quý giá của triều Nguyễn mà chính Ngô Đình Nhu những ngày mới tốt nghiệp trường Ecole Nationale des Chartes - trường đào tạo lưu trữ viên cổ tự học danh tiếng của Pháp - đã từng sưu tầm. Theo tiến sĩ Đào Thị Diến (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I), trong công trình nghiên cứu "Ngô Đình Nhu - Nhà lưu trữ Việt Nam thời kỳ 1938 - 1946", tính đến năm 2007, Ngô Đình Nhu là "người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tốt nghiệp Trường đào tạo cổ tự viên Ecole Nationale des Chartes”. Hiện nay, trong các chuyên đề lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, có một tiểu chuyên đề về "Ngô Đình Nhu - Nhà lưu trữ". Xét ở khía cạnh văn hóa, đây là điều khá thú vị về Ngô Đình Nhu mà chắc chắn nhiều người chưa được biết đến từ trước tới nay.


Trần Lệ Xuân là ai?


Trần Lệ Xuân (1924- 24/04/2011), cũng thường được biết đến là bà Ngô Đình Nhu, là một gương mặt then chốt trong Chính quyền Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng hòa cho đến khi anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị lật đổ và ám sát năm 1963.
Bà là dân biểu trong Quốc hội thời Đệ nhất Cộng hòa cùng là chủ tịch Hội Phụ nữ Liên đới (một tổ chức ngoại vi của đảng Cần lao). Tuy nhiên địa vị quan trọng hơn là "Bà Cố vấn" vì bà là vợ của Ngô Đình Nhu. Do tổng thống Ngô Đình Diệm không có vợ nên bà được coi là Đệ nhất Phu nhân (First Lady) của Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1963.

Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, dư luận cho rằng Trần Lệ Xuân là người lộng quyền. Việc tổng thống Ngô Đình Diệm để cho bà cũng như Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện và người em út Ngô Đình Cẩn tham gia vào chính sự tạo nên hình ảnh gia đình trị độc đoán kiểu phong kiến.

Trần Lệ Xuân cũng là người khởi xướng kiểu áo dài cổ thuyền, khoét sâu (mà dân chúng vẫn gọi nôm na là "áo dài Trần Lệ Xuân") tạo ra một làn sóng thời trang áo dài hở cổ mới mà những người cổ học lên tiếng phê phán. Loại áo dài vẫn thịnh hành đến ngày hôm nay.

Bà còn cho xây dựng tượng Hai Bà Trưng, bị nhiều người cho rằng bà cố tình cho tạc tượng với gương mặt của Trưng Trắc giống với bà và Trưng Nhị giống với con gái của bà là Lệ Thuỷ. Ba năm sau ngày bà phải rời nước lưu vong, tượng đài này bị đập bỏ. Ngày nay, những cánh rừng do bà khởi xướng trồng trên đường từ Sài Gòn đến rừng Cát Tiên vẫn được nhân dân gọi là rừng Trần Lệ Xuân.
Bà Trần Lệ Xuân có nhiều hoạt động trên chính trường trong thời gian từ năm 1955 đến 1963, làm Chủ tịch một tổ chức phụ nữ; ủng hộ các luật liên quan đến hôn nhân gia đình; thúc đẩy việc thông qua các luật liên quan đến những vấn đề như nạo thai, ngoại tình, thi hoa hậu, đấm bốc... Bà cũng được cho là ủng hộ các luật nhằm đóng cửa các nhà chứa và ổ thuốc phiện.
Hình ảnh bà qua báo chí nước ngoài:


Trong tháng 10 năm 1963, Trần Lệ Xuân cùng con gái Ngô Đình Lệ Thủy đi Hoa Kỳ và Roma với dự định sẽ vạch trần âm mưu lật đổ của Tổng thống Kennedy và CIA trước công chúng Mỹ.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963 Trần Lệ Xuân và con gái đang trú ngụ tại khách sạn sang trọng Wilshire Hotel ở Beverly Hill, California thì cuộc đảo chính xảy ra, chồng và anh chồng bà bị giết.

Ngày 15 tháng 11 năm 1963, Trần Lệ Xuân và Lệ Thủy rời khỏi Los Angeles để đi Roma sinh sống sau khi phát biểu: "Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi."

Ngày 16 tháng 10 năm 1971, tờ New York Times đưa tin bà bị đánh cướp số nữ trang trị giá trên 32 ngàn đôla tại Roma.
Ngày 9 tháng 5 năm 1975 khi trả lời phỏng vấn đài truyền hình NBC Trần Lệ Xuân đã tố cáo chính quyền Kennedy can thiệp vào Nam Việt Nam là "nhằm tạo thanh thế và sự ủng hộ cho Đảng Dân chủ Hoa Kỳ".
Ngày 2 tháng 11 năm 1986, Trần Lệ Xuân tố cáo Mỹ chơi xấu với gia đình bà trong việc bắt giữ Trần Văn Khiêm (em trai bà) về tội giết cha mẹ là ông bà Trần Văn Chương tại nhà riêng ở Washington, D.C. hồi tháng 7 cùng năm.
Những năm đầu thập niên 1990, Trần Lệ Xuân sống tại vùng Riviera Pháp và thường chỉ trả lời phỏng vấn một lần duy nhất để lấy tiền và vé máy bay khứ hồi cho con gái út qua thăm ông bà ngoại ở Mỹ.
Trước khi qua đời, Trần Lệ Xuân đang sống một mình, viết hồi ký tại một trong 2 căn hộ thuộc quyền sở hữu của bà (căn thứ hai cho thuê) trên tầng 11 của một tòa nhà cao tầng gần tháp Eiffel tại Quận 15, thủ đô Paris (Pháp) và cắt đứt mọi quan hệ với các nhân vật chính trị. Hai căn hộ này theo bà là của một nữ bá tước tỷ phú người Ý là Capici tặng mặc dù hai người chưa từng gặp nhau.
Bà qua đời lúc 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 2011 tại một bệnh viện ở Rome,Ý, thọ 87 tuổi

* Cha: Luật sư Trần Văn Chương, đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ
* Chồng: Ngô Đình Nhu, Cố vấn của Tổng thống

Các con:

* Ngô Đình Trác, tốt nghiệp kỹ sư canh nông, 55 tuổi (2007), lấy vợ người Ý, có 4 con (3 trai, 1 gái)
* Ngô Đình Quỳnh, tốt nghiệp ESSEC (Trường Kinh tế và Thương mại Pháp), hiện làm cho một công ty Mỹ tại Bruxelles, Bỉ
* Ngô Đình Lệ Thủy, trưởng nữ, mất vì tai nạn giao thông tại Paris năm 1968
* Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ Luật Đại học Roma, không nhập quốc tịch Ý tuy có chồng người Ý. Con trai 7 tuổi (2007) mang họ mẹ trên giấy tờ là: Ngô Đình Sơn.



Đặc điểm:
- Là phụ nữ Á Đông chỉ cao hơn 1m4, nhưng bà có đôi tay dài kỳ lạ. Người ta so sánh và cho rằng " đôi tay dài để thâu tóm quyền lực"




Câu nói nổi tiếng:Whoever has the Americans as allies does not need enemies ("Ai đã có Hoa Kỳ là đồng minh thì chẳng cần phải có kẻ thù")

Sau năm 1963, Bà Trần Lệ Xuân cùng các con chuyển về sinh sống tại Roma, cũng là nơi giám mục Ngô Đình Thục (anh trai Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu) từng cư trú. Ngày 13.12.1984, mấy mẹ con bà nhận được tin giám mục Thục từ trần tại Mỹ sau mấy năm bị khủng hoảng tinh thần.
Lúc còn ở VN hay khi sống lưu vong ở nước ngoài, giám mục Ngô Đình Thục lúc nào cũng yêu thương mẹ con bà. Do vậy, ông không chỉ là người thân ruột thịt, mà còn là ân nhân nơi đất khách quê người của Trần Lệ Xuân. Người ta hay đồn đoán rằng, nhà cửa của mẹ con bà ở Roma đều do ông bỏ tiền mua sắm và còn chu cấp kinh phí cho con cái bà ăn học nữa.
Mỗi khi nhắc đến gia đình họ Ngô, mọi người đều biết vợ chồng ông Ngô Đình Nhu – Trần Lệ Xuân. Dù luôn đứng trong bóng tối của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhưng quyền uy lại khuynh đảo cả miền Nam trước năm 1975.
Mấy anh chị em ruột nhà Ngô, nay hầu hết đã về “nước Chúa”, chỉ còn lại bà quả phu. Ngô Đình Nhu, tức Trần Lệ Xuân. Đệ nhất phu nhân, một thời lừng lẫy, ngày nay sống ra sao?
Như đã nói, sau khi được tin giám mục Ngô Đình Thục qua đời, mẹ con bà Nhu dự định sang Mỹ chịu tang. Nhưng chẳng biết vì sao, có lẽ do xích mích trong gia đình, nên ông Ngô Đình Luyện, em út trong gia đình họ Ngô đã cấm tiệt không cho phép mẹ con bà sang dự tang lễ.
Gần hai năm sau, ngày 28.7.1986, bà Xuân nhận được cú điện thoại của người em ruột là Trần Văn Khiêm, báo tin cha mẹ ruột là ông bà Trần Văn Chương qua đời, nhưng không rõ nguyên nhân. Sau đó, Khiêm bị cảnh sát Mỹ FBI bắt giam, do có liên can đến cái chết của hai người này. Cha mẹ ruột qua đời, bà Nhu cũng không thể qua Mỹ chịu tang.
Đến năm 1990, người em út của Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Luyện cũng qua đời tại Paris vì bệnh. Mẹ con bà Nhu cũng không thể đến dự tang, do trước đó từng có xích mích với nhau. Cuộc đời bà Trần Lệ Xuân, từng chứng kiến 10 đám tang, đều bất đắc kỳ tử của người thân, từng khóc hết nước mắt, nhưng không lần nào được tham dự tang lễ.
Cho đến nay, người ta vẫn đồn đoán: bà Nhu đã lấy chồng, hoặc qua đời từ lâu rồi, vì không mấy ai nghe tin tức. Song tất cả đều vô căn cứ. Vào tháng 3.2002, luật sư Trương Phú Thứ có sang Paris chơi, và đã đến thăm bà quả phụ Ngô Đình Nhu, chụp được tấm ảnh của bà. Khi về đến Hoa Kỳ, ông Thứ có viết một bài khá dài về bà.
Luật sư Trương Phú Thứ cho biết: bà Nhu sống một mình trong căn hộ của một tòa nhà khá gần tháp Eiffel. Bà có hai căn ở tầng thứ 11, tại một khu vực đẹp và đắt tiền nhất Paris. Bà ở một căn, căn còn lại cho người ta thuê để lấy tiền sinh sống. Đó là nguồn thu nhập duy nhất, đủ để sống, không cần nhờ vả đến các con.
Bà sống ẩn dật, âm thầm lẻ loi, đến mức cựu trung tướng quân đội Sài Gon Trần Văn Trung trước đây, vốn rất quen thuộc với cộng đồng người Việt tại Paris, cũng tưởng bà Nhu đang sống ở bên Italia.
Bà Nhu tuy đã ngoài 80, nhưng vẫn khỏe mạnh. Bà đi đứng nhanh nhẹn, lưng thẳng, đôi mắt to và sáng. Căn nhà bà Nhu khá tầm thường, với hai phòng ngủ và một phòng khách. Trên tường phòng khách còn treo vài bức ảnh lớn của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu và người con gái lớn Ngô Đình Lệ Thủy. Bà Nhu bác bỏ tin đồn chuyện một người Pháp giàu có biếu giám mục Thục số tiền lớn, sau đó ông cho bà để mua căn hộ này. Rồi bà dành dụm thêm để mua căn nữa. Sự thật không phải thế. Bà Nhu trực tiếp nhận được tiền từ một ân nhân ẩn danh. Sau đó bà nhờ một cựu bộ trưởng thời De Gaulle giúp mua giúp cho hai căn hộ này.
Trần Lệ Xuân hay nói: Mấy thanh niên VN mới đến Pháp, bơ vơ, tôi cho tạm trú ở căn hộ này, không lấy tiền nhà và điện nước. Một thời gian sau, họ có thân nhân đón đi hay mua nhà riêng, tôi mới cho một nhà ngoại giao người Nhật thuê. Bà còn tiết lộ vị ân nhân đó chính là bà Capici, một phụ nữ Italia từng nằm trong danh sách những người giàu nhất thế giới. Bà Nhu chưa từng gặp mặt vị ân nhân này, và mãi 4 năm sau khi bà này tạ thế, Trần Lệ Xuân mới biết rõ thân thế và sự nghiệp của bà Capici!
Trên bức tường ngăn phòng khách và nhà bếp, có treo bức ảnh đen trắng ” Biệt điện Trần Lệ Xuân ” ngày xưa ở Đà Lạt. Bà không hề có ý định sẽ trở về thăm VN. Khi nói về con cái, bà Nhu có vẻ hãnh diện. Con trai lớn là Ngô Đình Trác, tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp, năm nay 57 tuổi, lấy vợ người Italia, có 3 con trai, 1 gái. Bà Nhu khoe những đứa cháu nội, con trai ông Trác: Ai cũng cao trên 1,80 mét, to lớn và rất đẹp trai. Vợ ông Trác thuộc dòng dõi quý tộc, rất giàu có. Ông Trác chế tạo được nhiều nông cụ thích hợp cho canh tác những mảnh đất nhỏ. Gia đình ông có một biệt thự to và đẹp ở nội thành Roma, có dáng dấp như một tu viện cổ. Bà Nhu từng ở đây nhiều năm, khiến có tin đồn đoán bà sống trong một tu viện Công giáo!
Người con thứ nhì là Ngô Đình Quỳnh hiện cũng đã ngoài 50 tuổi, tốt nghiệp Trường cao đẳng Kinh tế và Thương mại – ESEC. Đây là trường tư thục cao cấp, mức học phí rất lớn. Sinh viên phải thi tuyển gắt gao, nhưng khi tốt nghiệp lại được nhiều cơ quan tài chính quốc tế trọng dụng. Khi Quỳnh học, bà Nhu không đủ tiền học phí để đóng, phải ký giấy xin khất nợ. Hiện ông Quỳnh làm đại diện thương mại cho một công ty Hoa Kỳ ở Bruxelles, thủ đô nước Bỉ. Ông ta không có vợ con, bà Nhu nói: ” Nó giống như ông bác ruột (tức Ngô Đình Diệm) “.
Cô gái út, Ngô Đình Lệ Quyên có bằng tiến sĩ luật, Trường đại học Rome. Lệ Quyên là luật sư ngành công pháp quốc tế rất nổi tiếng, nhưng chỉ được mời thỉnh giảng tại Đại học Rome. Lý do: Cô không chịu gia nhập quốc tịch Italia! Và luật pháp xứ này không cho phép người không có quốc tịch làm giáo sư chính thức. Lệ Quyên từng được mời tham dự nhiều hội nghị quốc tế và đã công bố nhiều tham luận xuất sắc. Cô lấy chồng người Italia, nhưng đứa con trai lại lấy họ mẹ: Ngô Đình Sơn, khiến cho bà Nhu rất hãnh diện.
Mỗi sáng sớm, bất kể thời tiết nóng lạnh, bà Nhu đều đi bộ chừng 10 phút đến nhà thờ Saint-Paul dự lễ. Sau thánh lễ, bà ở lại giúp dọn dẹp nhà thờ và xếp đặt trưng bày hoa, nến. Ngày Chủ nhật, bà còn dạy giáo lý cho trẻ con.
Bà Nhu rất ít đi mua sắm. Nói đến áo quần, bà có vẻ đăm chiêu: ” Nhớ hồi xưa ở bên Sài Gòn nóng quá, nên tôi mặc áo dài hở cổ, khiến Tổng thống không bằng lòng “. Chiếc áo dài hở cổ được đặt tên ” kiểu áo bà Nhu ” một thời là mốt thời thượng ở Sài Gòn. Bà nói: ” Nhiều khi tôi phải đại diện chính phủ tiếp phu nhân các nước mà chẳng có đồ trang sức nào cả. Có một bà bộ trưởng muốn bán số đá rubi trang sức, tôi xin Tổng thống Diệm số tiền 6 ngàn đồng để mua lại. Ông ấy bằng lòng, nhưng buộc phải viết giấy biên nhận, ghi đầy đủ lai lịch từng món. Đó là lần duy nhất ông Diệm cho tôi tiền, và bây giờ cũng không còn nhớ chúng thất lạc ở mô nữa! “.
Bà Nhu còn kể lại: Dịp mùa xuân 1975, hệ thống Đài truyền thanh Mỹ NBC có xin phỏng vấn 30 phút. Bà chấp nhận và đòi thù lao 10.000 USD và 2 vé máy bay khứ hồi hạng nhất Paris – Washington, để sẵn dịp dẫn Lệ Quyên đi thăm ông bà ngoại Trần Văn Chương. Đó là lần duy nhất bà đi Mỹ và cũng là lần duy nhất bà xuất hiện trên truyền thông quốc tế sau năm 1963. Ngoài ra bà chưa từng gặp gỡ hoặc tiếp xúc với bất kỳ báo chí Việt ngữ dưới bất kỳ hình thức nào.
Hiện nay, bà quả phu. Ngô Đình Nhu đang viết dở một quyển hồi ký bằng tiếng Pháp do chính bà dịch sang tiếng Italia, Anh và VN. Bà cho biết, chỉ sau khi qua đời sách này mới được phát hành!

Nguồn: lược sử từ wiki, ột số trang khác.
Hình ảnh: sunmi_totoro chụp tại biệt thự TLX và một số trang online khác

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Đà Nẵng


Đà Nẵng là thành phố lớn thứ 4, sau HCM - HN - Hải Phòng. Nguồn gốc từ "ĐÀ NẴNG". Là biến dạng của từ Chăm "DAKNAN". Theo tài liệu của cụ Bố Thuận (nhà nghiên cứu Chăm, gốc Phan Rí, sống vào đầu thế kỷ XX) thì chữ DAK có nghĩa là nước (Chăm cổ), NAN là rộng, lớn, hoặc già. Địa danh DAKNAN hàm ý chỉ vùng sông nước rộng mênh mông (sông lớn hoặc sông già - cửa sông Hàn bây giờ). Người Việt phiên âm ra thành Đà Nẵng. Vào thời Pháp thuộc (và trước đó), địa danh Đà Nẵng thường được gọi là Tourane.

Sự qui hoạch tốt, phân bố tốt mang lại không gian thoáng cho thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên vẫn còn cái rất tệ! Là trung tâm các khu công nghiệp đầu tư nhiều, nhưng sân bay Đà Nẵng đến nay vẫn chưa cải thiện về diện tích- cung cách phục vụ. Hải quan sân bay còn rất chảnh, nhân viên hàng không của khu vực này còn mang ý nghĩ cục bộ, chưa thấy tinh thần phục vụ khách hàng có gì thay đổi.

Đà Nẵng giá cả cũng mắc mỏ, hải sản không ngon bằng các vùng miền trung khác. Từ trung tâm thành phố có những điểm tham quan như: bãi tắm Mỹ Khê ( đến năm nay thì đã bị rớt hạng, không còn là bãi tắm đẹp nhất thế giới theo bình chọn của Forbs nữa). Chùa Linh Ứng, bảo tàng Chămpa.


Một điểm đến không thể bỏ qua là Bà Nà. Đỉnh đồi với kỉ lục cáp treo dài nhất thế giới, được gọi là Đà Lạt của miền trung.

Một ngày hưởng trọn không khí của 4 mùa: xuân-hạ-thu-đông. Mùa xuân bắt đầu từ buổi sáng đến độ 9h. Mùa hạ bắt đầu từ 10h sáng đến 2h chiều. Mùa thu bắt đầu từ 2h chiều đến 5h chiều. Và 6h tối trở đi sẽ là mùa đông. Nhiệt bộ ban đêm có thể xuống tới 14 độ.

( hoa biể tượng cho Bà Nà)
Lòng vòng đà nẵng thì chỉ có vậy. Kể cả khu du lịch Bà Nà này cũng thế! khách đến cũng có người khen người chê. Nhưng cái đáng kể tới là thái độ phục vụ du khách của những người ở đây. Anh phó tổng Giám Đốc cty GK nói với tôi rằng" nếu họ độc quyền mà phục vụ thái độ như vậy thì khách không đến nữa. Khi là đơn vị cung cấp dịch vụ độc quyền mà phục vụ tốt thì mới đáng kể".

Nói chung, làm dịch vụ cần sự chu đáo, không phải lấy tiền rồi là xong. Không phải độc quyền thì có quyền la mắng khách. Tư duy vẫn chưa thay đổi!
Từ Đà Nẵng đi ra vài chục km, thì còn có Ngũ Hành Sơn và làng đá non nước, cũng nên tham quan.

Làng đá non nước.

Đà Lạt


Nằm trêm cao nguyên Lâm Viên, Từ xa xưa, vùng đất này vốn là địa bàn cư trú của những cư dân người Lạch, người Chil và người Srê thuộc dân tộc Cơ Ho.

Cuối thế kỷ 19, khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng dành cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer đã quyết định chọn cao nguyên Lâm Viên theo đề nghị của bác sỹ Alexandre Yersin, người từng thám hiểm tới nơi đây vào năm 1893. Với độ cao 1.500 mét so với mực nước biển và được các dãy núi cùng quần hệ thực vật rừng bao quanh, Đà Lạt thừa hưởng một khí hậu miền núi ôn hòa và dịu mát quanh năm. Lịch sử hơn một thế kỷ cũng để lại cho thành phố một di sản kiến trúc giá trị, được ví như một bảo tàng kiến trúc châu Âu thế kỷ 20.


Nội dung trên: wikipedia


Ngày nay du khách đến với Đà Lạt hầu như quanh năm. Bởi cứ hè trời nắng nóng, Đà Lạt đón biết bao lượt khách. Khí hậu quanh năm mát mẻ, cũng là lợi thế phát triển các loại hoa ôn đới.

Rất nhiều nhà vườn đáng để tham quan như: vườn hoa Minh Tâm, vườn hoa thành phố....


Những điểm tham quan trong thành phố:
1. Đồi mộng mơ: 05 Mai Anh đào.
2. Thung lũng tình yêu: cạnh đồi mộng mơ
3. Thác Đatanla, thác D'ambri, thác Pongour
4. Suối vàng Dankia
5. Biệt thự Trần Lệ Xuân: 2 yết kiêu.
6. XQ sử quán
7. Nhà thờ chánh toà: đường Trần Phú, Domain: 01 Ngô Quyền.
9. Thiền viện Trúc Lâm, đi cáp treo Robin sang hồ Tuyền Lâm: đèo Pren
10. chinh phục đỉnh Langbiang
11. Dinh vua Bảo Đại: 1,2,3
12. Crazy house: 3 Huỳnh Thúc Kháng
13. nhà ga Đà Lạt: 01 quang trung.
14. làng hoa Trại Mát
15. chợ đêm Đà Lạt: ngay trung tâm hoà bình.
16. chùa Linh Sơn: 120 nguyễn văn trỗi.
17. chùa Linh Phước:120 tự phước.
18. dạo Hồ Xuân Hương bằng xe đạp đôi

Lễ cưới Việt Nam - Vietnamese wedding ceremony

Ngày nay lễ cưới của người Việt cũng đã giản lược đi ít nhiều những phong tục và tục lệ cổ xưa. Do giới trẻ ngày nay cũng dần có xu hướng Âu hoá. Tuy nhiên, vẫn không thể mất đi hình ảnh và nguyên tắc của một lễ hỏi cưới truyền thống.

Mâm bánh buồng cau. Trầu cau mang điển tích nhắc nhở lòng thủy chung của đôi trai gái. Gia đình cô dâu sẽ biếu lại nhà trai một phần lễ vật, số còn lại đem chia thành gói nhỏ, biếu họ hàng, bạn hữu để báo tin con mình đã đính hôn.

Phong tục cưới hỏi mỗi miền mỗi khác. Theo tục lệ, nhà trai phải gửi tiền " chợ" cho nhà gái trước hôm làm lễ, để nhà gái có tiền chuẩn bị cho ngày làm lễ. Thông thường được gọi là " lễ dạm ngỏ" hay còn gọi là " lễ hỏi". Lúc đó gia đình 02 bên gặp nhau để thống nhất luôn ngày giờ và trở về công bố cho hai họ cùng bạn bè.

Trước ngày cưới chừng 1 tháng. Cô dâu và chú rể đi chụp ảnh ghi lại những khoảnh khắc yêu thương. Cùng theo đó là may chiếc áo dài cưới thật vừa vặn trang nghiêm để mặc trong lễ cưới, quỳ lại trước bàn thờ gia tiên. Ba mẹ chồng - vợ hai bên cũng sắm sửa cho mình những bộ lễ phục đẹp và đứng đắn. Ngày xưa thì áo dài khăn đống. Ngày nay thì các ông thường sắm veston cho trịnh trọng, các bà thường may áo dài hoa văn.

ễ rước dâu
Đoàn rước dâu của nhà trai đi thành từng đoàn, có cụ già cầm hương đi trước, cùng với người mang lễ vật.


Nhà gái cho mời cụ già thắp hương vái trước bàn thờ rồi cùng ra đón đoàn nhà trai vào. Cô dâu đứng sẵn để cùng với chú rể lạy trước bàn thờ, trình với tổ tiên.

Sau đó hai người cùng bưng trầu ra mời họ hàng. Bố mẹ cô dâu tặng quà cho con gái mình. Có gia đình cũng lúc này bày cỗ bàn cho cả họ nhà gái chung vui. Khách nhà trai cũng được mời vào cỗ. Sau đó là cả đoàn rời nhà gái, để đưa dâu về nhà chồng. Họ nhà gái chọn sẵn người đi theo cô gái, gọi là các cô phù dâu.


Sau lễ rước dâu, cả hai họ cùng chia vui với cô dâu và chú rể, hai nhà hợp thành một. Tình thông gia trao qua những chum rượu nhỏ.

Một số nơi còn lưu truyền rất khắt khe, phải đầy đủ các lễ: lễ tơ hồng, lễ trải giường tân hôn, lễ lại mặt, lễ cheo...
Lễ tơ hồng
Cả hai họ cùng ngồi ăn uống xong, tất cả ra về, trừ người thân tín thì ở lại. Họ chờ cho cô dâu chú rể làm lễ cúng tơ hồng. Người ta cho rằng vợ chồng lấy được nhau, là do ông Tơ bà Nguyệt trên trời xe duyên cho. Cúng tơ hồng là để tạ ơn hai ông bà này. Lễ cúng tơ hồng đơn giản nhưng rất thanh lịch, không có cỗ bàn nhưng có rượu và hoa quả. Có thể cúng trong nhà, mà cũng có thể cúng dưới trời . Ông cụ già cầm hương lúc đón dâu, hoặc ông cụ già cả nhất của họ hàng, chứng kiến buổi lễ. Lạy cụ tơ hồng, rồi hai vợ chồng vái nhau (gọi là phu thê giao bái). Các đám cưới quý tộc thì việc tổ chức có quy cách hơn.

Trải giường chiếu
Xong lễ tơ hồng, thì cô dâu chú rể cùng mọi người vào phòng cô dâu. Trong lúc này trên chiếc giường cưới đã có sẵn đôi chiếu mới úp vào nhau. Bà mẹ chồng, hoặc một bà cao tuổi khác, đông con nhiều cháu, phúc hậu, hiền từ, sẽ trải đôi chiếu lên giường, trải cho ngay ngắn, xếp gối màn cẩn thận.
Lễ hợp cẩn
Đây là buổi lễ kết thúc đám cưới tại nhà trai. Trước giường có bàn bày trầu rượu và một đĩa bánh. Loại bánh này gọi là bánh phu thê (sau này ta đọc thành bánh xu xê). Ông cụ già đứng lên rót rượu vào chén rồi mời đôi vợ chồng cùng uống, phải cùng cạn chén, cùng ăn hết cái bánh - chỉ co hai vợ chồng, không chia cho ai, không để thừa.
Mọi người ra ngoài, để hai vợ chồng cùng tâm sự. Ở một số nhà khá giả, thiên về hoạt động văn hoá, thì những bạn bè văn chương chữ nghĩa với chàng rể còn mang hoa, thắp đền sáng rực trong phòng hợp cẩn. Họ cũng ca hát, gây tiếng động, hoặc vỗ tay, đập các khúc gỗ vào nhau. Do đó mà sau có chữ động phòng hoa chúc.
Lễ lại mặt
Cũng gọi là ngày nhị hỉ, lễ cưới xong, sáng hôm sau, hai vợ chồng trẻ sẽ trở về nhà gái, mang theo lễ vật để tạ gia tiên. Lễ vật cũng có trầu, xôi, lơn. Bố mẹ vợ làm cơm để mời chàng rể và con gái mình. Ở một số trường hợp nếu xảy ra chuyện gì mà nhà trai không bằng lòng sau đêm hợp cẩn, thì lễ nhị hỉ lại có những chuyện không hay. Nhưng trường hợp này rất hiếm.
Lễ cheo
Lễ cưới Việt Nam còn có một hiện tượng độc đáo, đó là lễ cheo. Lễ cheo có thể tiến hành trước nhiều ngày, hoặc sau lễ cưới một ngày. Lễ cheo là nhà trai phải có lễ vật hoặc kinh phí đem đến cho làng hay cho xóm có con gái đi lấy chồng. Lễ cưới là để họ hàng công nhận, lễ cheo là để xóm làng tiếp thu thêm thành viên mới, tế bào mới của làng. Thật ra đây cũng là thủ tục như bây giờ chúng ta đăng ký ở Uỷ ban. Song người Việt không cho đó chỉ là thủ tục, mà là một lễ nghi hẳn hoi. Người theo chữ nghĩa sách vở thì gọi lễ cheo này là lễ lan nhai (nhiều người đọc ra là lễ lan giai). Lan nhai có nghĩa là tiền nộp cheo cho làng khi nhà trai đến đón dâu ở nhà gái.
Cách thức tổ chức, trình tự tiến hành của một đám cưới Việt Nam ngày xưa là như vậy. Những đám cưới theo kiểu mới hiện nay, theo phong trào, theo quan niệm mới (thật ra thì chưa thành quan điểm), ta cứ làm mà thực ra thì chưa ưng lắm. Gần đây đời sống của ta có tươi hơn, chuyện xã giao, chuyện theo đà cũng rầm rộ hơn, khiến cho nhiều người biết là không ổn mà vẫn cứ phải theo những kiểu cách phô trương (có cả trục lợi).

Ngày nay sau khi làm lễ rước dâu về nhà trai, các cặp đôi thường ra nhà hàng, đãi một tiệc chung bà con hai họ, cùng bạn bè đồng nghiệp. Chung vui cùng một tiệc. Như vậy rút ngắn được nhiều lề thói phiền phức và cổ hũ. Cũng như tiết kiệm chi phí cho một lễ cưới ở Việt Nam.

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

Nhà thờ núi


Cái tên " nhà thờ Núi" có lẽ gần gũi và dễ nhớ hơn là " Nhà thờ chánh toà Kito". Người ta gọi là nhà thờ Núi vì nhà thờ xây dựng trên núi cao, nằm ngay trung tâm thành phố Nha Trang.

Ngày 5 tháng 7, 1957 Giáo phận Nha Trang chính thức được thành lập từ việc chia tách Giáo phận Qui Nhơn nhưng mới chỉ là giáo phận tông tòa. Ngày 24 tháng 11, 1960, Giáo Phận Nha Trang mới được nâng lên hàng giáo phận chính tòa, lúc này, Nhà thờ Nha Trang được chính thức được chọn làm nhà thờ chính tòa của giáo phận, họ đạo Nha Trang trở thành giáo xứ Chính Tòa. Nhà thờ này được xây dựng theo phong cách kiến trúc nhà thờ phương Tây. Nhìn tổng thể, công trình có bố cục chắc khỏe với những khối lập thể nhỏ dần từ thấp vươn cao, nổi bật giữa trời xanh. Ðiểm cao nhất là nơi đặt thánh giá trên đỉnh tháp chuông, cao 38 mét, tính từ mặt đường.

Ngày 3 tháng 9, 1928, nhà thờ được khởi công xây dựng trên một mõm núi nhỏ, có tên là núi Bông, độ cao khoảng 12 mét. Khoảng 500 trái mìn đã được sử dụng để tạo mặt bằng trên đỉnh núi.

Ngày 14 tháng 5, 1933, trong lễ thánh Jeanne d'Arc, nhà thờ được cung hiến và khánh thành. Cha Louis Vallet chọn Chúa Kitô Vua làm Bổn Mạng Nhà thờ
Ngày 29 tháng 7 năm 1934, Ðức Khâm Mạng Toà Thánh Dreyer làm phép quả chuông đặt tên hiệu là Têrêxa Hài Ðồng Giêsu, do bà tín đồ ở Sài Gòn dâng tặng. Tháp chuông được khánh thành vào ngày 3 tháng 12 năm 1935.
Ngày 24 tháng 10, 1945, linh Mục Louis Vallet qua đời. Thi hài ông được an táng dưới chân núi, bên phải con đường lên nhà thờ.

# 19 tháng 12, 1992, đặt 12 tượng các thánh bao quanh sân nhà thờ: Gioan Tẩy giả, Phaolô, Gioakim, Anna, Máccô, Luca, Banaba, Tổng lãnh thiên thần Micae - Raphaen - Gabrien, Mátta, Maria Mađalêna và tượng Ðức Mẹ cứu vớt các linh hồn.



# 19 tháng 1, 1993, đặt 8 tượng thánh: Stêphanô, Gioan Maria, Vianê, Monica, Cecilia, Anê, Phanxicô Assisi, Anphongsô, Gioan Lasan.
# 9 tháng 9, 1993, đặt 4 tượng: Chúa Kitô Phục Sinh, thiên thần hộ thủ, thánh Máctin Porét và thánh Ðaminh.
# 17 tháng 3, 1994, sửa nền hang đá Ðức Mẹ, đặt lại tượng thánh Bécnađét.

Bên trong nhiều cột đá được sắp xếp theo phong cách các nhà thờ Châu Âu, mái chóp vòng cung. Những cột đá được khắc vẩy, khô sơn, để nguyên màu đá.

Nhiều ý kiến cho rằng, tuyến đường sắt chạy sát cạnh nhà thờ đã gây chấn động, làm ảnh hưởng rất lớn đến sự vững chắc của nhà thờ